HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang trực tuyến: 892
  • Tổng lượt truy cập: 10.808.404
Thông tin về các khái niệm về đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định ở Việt Nam
22/11/21 03:40PM

Tổ chức, cá nhân có thể thực hiện quyền đăng ký quốc tế nhãn hiệu có chỉ định Việt Nam theo theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Sau đây, Dữ Liệu Pháp Lý sẽ cụ thể hóa nội dung này theo Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019), Nghị định 103/2006/NĐ-CP, Nghị định 122/2010/NĐ-CP, Thông tư 01/2007/TT-BKHCN, Thông tư 13/2010/TT-BKHCN, Thông tư 18/2011/TT-BKHCN, Thông tư 05/2013/TT-BKHCN, Thông tư 16/2016/TT-BKHCN, Thông tư 263/2016/TTBTC, Thông tư 31/2020/TT-BTC.

* Một số khái niệm:

- Khoản 16 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.

- Chủ sở hữu nhãn hiệu là tổ chức, cá nhân được cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hoặc có nhãn hiệu đã đăng ký quốc tế được cơ quan có thẩm quyền công nhận hoặc có nhãn hiệu nổi tiếng (theo khoản 1 Điều 121 Luật Sở hữu trí tuệ 2005).

- Khoản 1 Điều 12 Nghị định 103/2006/NĐ-CP quy định: Đơn Madrid được hiểu là đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu nộp theo Thoả ước Madrid hoặc theo Nghị định thư Madrid, bao gồm:

+ Đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam, có nguồn gốc từ các nước Thành viên khác của Thoả ước Madrid hoặc Nghị định thư Madrid (Đơn Madrid có chỉ định Việt Nam);

+ Đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu tại các nước Thành viên khác của Thoả ước Madrid hoặc Nghị định thư Madrid, nộp tại Việt Nam (Đơn Madrid có nguồn gốc Việt Nam).



(Nguồn: dulieuphaply.vn)
TRANG CHỦ